Ngành mía đường đang bị dồn vào “chân tường” – VnEconomy

Theo Tổng cục Hải quan, trong năm 2021 Việt Nam đã chi ra số tiền kỷ lục 853,699 triệu USD để nhập khẩu đường với khối lượng kỷ lục 1.729.866 tấn, cao hơn nhiều so với năm 2020 cả về giá trị nhập khẩu đường (642,930 triệu USD) và lượng đường nhập khẩu (1.584.406 tấn). Đáng chú ý, nhập khẩu đường từ Thái Lan đã giảm, nhưng nhập khẩu đường từ 5 nước ASEAN (Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar) lại tăng gấp 4 lần so với 2020.

ĐƯỜNG NHẬP KHẨU TĂNG PHI MÃ

Tổ chức Forest Trends phối hợp với chuyên gia của Viện Nghiên cứu Mía đường Việt Nam vừa công bố Báo cáo nghiên cứu “Chuỗi cung ngành mía đường Việt Nam”.

Theo Báo cáo, trong giai đoạn 2017-2020, bình quân mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu 1,2 – 1,8 triệu tấn đường, trong đó nhập khẩu chính ngạch chiếm từ gần 30-90%, phần còn lại là đường nhập lậu. Đường nhập khẩu cả chính ngạch và nhập lậu chủ yếu có nguồn gốc từ Thái Lan, được nhập vào Việt Nam thông qua đường bộ từ Campuchia và Lào.

Ngành mía đường đang bị dồn vào “chân tường” - Ảnh 1

Dẫn số liệu từ Tổ chức Đường thế giới (ISO năm 2015, 2019 và 2021), Báo cáo cho biết, từ năm 2013 đến 2017, Việt Nam chỉ nhập đường trắng với khối lượng hàng năm dao động từ 77,6 – 356,5 ngàn tấn. Trong giai đoạn này, đường chủ yếu được nhập theo kênh hạn ngạch thuế quan WTO. Từ nửa cuối năm 2018, ngoài đường trắng, Việt Nam bắt đầu nhập đường thô với lượng nhập tăng đột biến, chiếm 37,4 – 80,4% tổng lượng đường nhập khẩu hàng năm.

Năm 2020, tổng lượng đường nhập khẩu của Việt Nam tăng đột biến, đạt 1,589 triệu tấn, tăng gần 4,4 lần so với lượng nhập năm 2019 (362,6 ngàn tấn) và gấp hơn 2 lần sản lượng đường sản xuất trong nước niên vụ 2019/2020 (767.954 tấn). Lượng nhập tăng đột biến là bởi năm 2020 là năm đầu tiên Việt Nam xoá bỏ hạn ngạch nhập khẩu và giảm thuế về 5% đối với các mặt hàng đường có xuất xứ từ các nước tham gia Hiệp định Thương mại và Hàng hóa ASEAN – ATIGA.

Về tỷ trọng đường nhập khẩu qua các kênh chính ngạch trong năm 2020, theo số liệu của Tổng cục Hải quan (năm 2021), lượng đường nhập khẩu từ các nước ASEAN theo Hiệp định ATIGA chiếm tỷ lệ cao nhất là 79,9%. Tiếp sau là nhập theo hình thức tạm nhập tái xuất hoặc nhập khẩu nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu (chiếm 18,5%); nhập từ Lào (chiếm 0,8%) và nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan WTO (chiếm 0,8%).

Ngoài các kênh chính ngạch, đường từ nước ngoài còn xâm nhập vào Việt Nam qua con đường nhập lậu và gian lận thương mại. Dựa số liệu thống kê của Tổ chức Đường thế giới (ISO), lượng đường không rõ nguồn gốc nhập lậu vào Việt Nam trong giai đoạn 2015-2019 là khoảng 757.000 tấn/năm, chủ yếu là từ Campuchia và Lào.

MÍA ĐƯỜNG YẾU NĂNG LỰC CẠNH TRANH

Với diện tích trồng mía hiện tại khoảng 151.000 ha, Việt Nam đứng thứ tư tại Đông Nam Á (sau Thái Lan, Indonesia, Philippines) và thứ 15 trên thế giới về diện tích trồng mía. Tổng giá trị ngành mía đường trong nước tạo ra trong vụ 2020- 2021 ước đạt khoảng 12.500 tỷ đồng, trong đó các sản phẩm đường đóng góp 9.200 tỷ đồng (chiếm 73,6%), các sản phẩm khác ngoài đường đóng góp 3.300 tỷ đồng (chiếm 26,4%).

Sự sụt giảm cũng thể hiện trong khâu chế biến: 38 nhà máy đường năm 2017 giảm còn 29 nhà máy hiện nay, tức là đã có 11 nhà máy đường phải ngừng hoạt động. Suy giảm về quy mô của ngành do nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố quan trọng nhất là năng lực cạnh tranh của ngành còn thấp, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế khi các hàng rào về thuế quan được loại bỏ.

Tính toán của các chuyên gia khi tổng hợp số liệu khảo sát từ các nhà máy đường nước ta cho thấy, khi so sánh một số loại chi phí sản xuất mía đường giữa Việt Nam và Thái Lan từ vụ 2014/15 đến vụ 2018/19: Chi phí sản xuất mía nguyên liệu Việt Nam cao hơn Thái Lan từ 17,3 – 42,6%. Chi phí chế biến đường Việt Nam cao hơn Thái Lan từ 125,7 – 241,3%. Chi phí quản lý sản xuất mía đường Việt Nam cao hơn Thái Lan từ 37,4 – 68,3%.